Thứ Năm, 23 tháng 7, 2015

LỊCH SỬ CÁC BÀI THÁNH CA

Các bài thánh ca trong 1700 năm đầu tiên



     Tân Ước cho chúng ta biết rằng các bài thánh ca (từ gốc Hi Lạp “hymnos” có nghĩa là những bài hát ca ngợi) đã được Chúa Giê-xu và các môn đồ hát (Mat. 26:30) và các bài thánh ca thì khác với các Thi thiên (Êph. 5:19). Ngoài ra, chúng ta không biết gì nhiều hơn về các bài thánh ca Cơ Đốc trong suốt ba thế kỷ đầu của Hội thánh.

     Có những ghi chép về các bài thánh ca được đề niên hiệu từ thế ký IV và V vẫn còn được hát trong giáo hội Công Giáo ngày nay. Vào thế kỷ VI, Benedict of Nursia (480-547), người sáng lập Dòng Tu Bê-nê-đích đã dịch nhiều bài hiện có sang tiếng La-tinh và chuyển thể chúng thành các bài thánh ca Công Giáo thời Gregory. Với một vài ngoại lệ, các bài thánh ca này chủ yếu được các tu sĩ hát và vẫn còn được chấp nhận là âm nhạc của Hội thánh Cơ Đốc trong nhiều năm.
     
     Vào đầu thế kỷ XVI, Cuộc Cải Chánh mang lại nhiều thay đổi, kể cả việc các bài thánh ca được dịch từ tiếng Hy Lạp và La-tinh sang các ngôn ngữ dân thường và được viết với vần, điệu dân gian quen thuộc để dễ hát, dễ nhớ.


     Ở Anh Quốc, Hội thánh đã quyết định mượn từ Kinh Thánh, chủ yếu là các Thi Thiên, và sửa lại cho thích hợp, thành ra tất cả các bài thánh ca mới của họ. Martin Luther(1483-1546) đã sáng tác các bài hát dựa trên nguyên tắc Kinh Thánh nhưng không lấy trực tiếp từ đó. Bài hát nổi tiếng hơn hết của ông là “Chúa, Bức thành Kiên cố Ta”1   hiện nay vẫn còn được hát.

     Isaac Watts (1674 - 1748) là công cụ trong việc thúc giục Anh Quốc mở rộng nền tảng thánh ca của họ khi ông viết và phân phát các bài thánh ca hay và gây cảm kích, chẳng hạn như các bài “Giờ Được Chiêm ngưỡng Thập giá”2 và “Phước Cho Nhân loại”3.

     Vào thế kỷ XVIII, Charles Wesley đưa thánh ca đến một bình diện hoàn toàn khác. Ông sáng tác và xuất bản hơn 100 bài hát hay với chủ ý kêu gọi cảm xúc và trải nghiệm cứu rỗi của tín nhân Cơ Đốc. “Ô, Ngàn Miệng lưỡi Hát”” (O For A Thousand Tongues to Sing), “Kìa Thiên binh Cùng Vang Tiếng hát”,  “Ngày nay Chúa Phục sinh” và các bài hát khác của ông mau chóng trở nên phổ biến trước hết trong Hội thánh Giám Lý và sau đó trong các giáo phái khác.

     Phong cách các bài hát của Watts và Wesley hình thành nền tảng âm nhạc Cơ Đốc hiện thời. Lời các bài thánh ca của họ ngày nay vẫn còn vang lên và các giai điệu vẫn còn vang ra từ nhiều Hội thánh khắp nơi trên thế giới. Các bài thánh ca của những thế kỷ đã qua vẫn còn đây.

Ai viết bài thánh ca đầu tiên? Khi nào?


     Trong nhiều năm, chủ yếu chỉ có những bài thánh ca bằng tiếng La-tinh do các tu sĩ Công giáo thời Gregory hát được thừa nhận là âm nhạc hội thánh. Cuộc Cải Chánh ở thế kỷ XVI đem lại thành quả là sự hình thành Hội thánh Cải Chánh và một loại âm nhạc hội thánh mới mẽ – các bài thánh ca được viết để cộng đồng dân thường hội thánh hát, bằng một ngôn ngữ mà họ có thể hiểu (xem “Lịch Sử Các Bài Thánh Ca Phần 1). Qua hơn 200 năm sau đó, phong cách âm nhạc mới này được phát triển cho đến khi đem lại kết quả là những bài thánh ca mà nhiều tín hữu Cơ Đốc thuộc Hội thánh Cải Chánh (và một số tín đồ Công Giáo) vẫn còn hát ngày nay.

     Phải mất nhiều năm sau Cuộc Cải Chánh,  Giáo hội Công Giáo mới thêm phong cách  thánh ca này vào truyền thống của họ. Vào thế kỷ XIX, việc thông qua Đạo luật Giải phóng Nô lệ Công Giáo (Catholic Emancipation Act)  mở cửa cho việc viết và hát những bài thánh ca khác hơn thánh ca Công Giáo thời Gregory bằng tiếng La-tinh. Để làm cho sự thay đổi này vẫn còn giữ đúng theo phong cách thờ phượng đặc thù  Công Giáo, một loạt các bài thánh ca hoàn toàn mới đi vào cuộc sống, bao gồm các bài phổ biến như: “Dâng lên Giê-xu Đế Vương  của Chúng ta” (“To Jesus Christ our Sovereign King”), “Đức Chúa Trời Thánh, Chúng  tôi Ca ngợi Danh Ngài” (“Holy God We Praise Thy Name”) và “Hỡi Đức Thánh Linh, Hãy Đến” (“Come Holy Ghost”).

      Cũng nổi lên trong thế kỷ XIX là các bài thánh ca Phúc âm như: “Tôi Thích Kể Câu chuyện” (I Love to Tell the Story, by William Fisher) và “Chúa Thuộc về Tôi”5 (“Blessed Assurance”, tác giả Fanny Crosby, một người mù đã viết hơn 8000 bài hát). Phong cách âm nhạc này trở nên phổ biến trong các buổi nhóm phấn hưng lớn của các nhà rao giảng Phúc âm, chẳng hạn như Dwight L. Moody.

     Vào đầu thế kỷ XX, phong trào Ngũ Tuần quyết định bắt nhịp cầu qua hố ngăn cách giữa các tín hữu Cơ Đốc thuộc nhiều chủng tộc khác nhau (v.d, Cuộc phấn hưng ở Phố Azusa, 1906). Thành quả của sự quyết tâm này là các bài thánh ca Phúc âm và các nhạc sĩ da đen bắt đầu trở nên quen thuộc với các tín hữu da trắng. Hai bài thánh ca “Chúa Quí báu” (“Precious Lord”, của Thomas Dorsey) và “Chim sẻ Mắt Chúa Vẫn Chúa vào”6 (His Eye is on the Sparrow, không rõ tác giả) đã được nữ ca sĩ nổi tiếng Mahalia Jacson hát là những điển hình cho một phong cách âm nhạc riêng biệt đã xóa bỏ lằn ranh chủng tộc. 

     Phong trào Dân của Giê-xu (Jesus People movement) vào những năm cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970 đã đem vào Hội thánh những ý tưởng mới về thái độ hội thánh thích đáng và những bài thánh ca tươi mới. Những ca khúc như “Bài hát Phục sinh” (“Easter Song”, của nhóm hát Second Chapter of Acts), “A-lê-lu-gia” (“Alleluia”, của Chuck Girard), “Hỡi Chúa, Ngài Đẹp xinh” (“Lord, You're Beautiful”, của Keith Green) và “Huyết Sẽ Không Bao giờ Đánh mất Quyền năng” (“The Blood Will Never Lose Its Power”, của Andre Crouch) lần đầu tiên được thế hệ trẻ hơn đánh giá cao và theo thời gian dần dần được cải tiến để phù hợp với nề nếp sinh hoạt của hội thánh dòng chính.

     Vào các thập niên 1970 và 1980, Âm nhạc Trang trọng (Integrity Music) và Âm nhạc Ô Chúa Hãy Đến! (Maranatha! Music) đã đưa hội thánh đến với các ca khúc “Như Con nai Khao khát Nước” (As the Deer Pants for the Water), “Ngài Là Nơi ẩn náu Tôi” (You Are My Hiding Place) và nhiều bài thánh ca khác được viết với chủ ý đưa sự thờ phượng riêng tư và tập thể đến một mức độ mới của sự thân mật với Đức Chúa Trời.

     Các bài hát ca ngợi của các nhạc sĩ Cơ Đốc ở khắp nơi trên thế giới– hoặc đã nổi tiếng hoặc không được ai biết đến– xuất hiện đều đặn. Sự ca ngợi và thờ phượng trong hội thánh vang lên một âm thanh mới đã và đang tiếp tục phát triển cách mãnh liệt và tốt đẹp hơn bao giờ hết trong hơn 20 năm qua.

     Trong 2000 năm, các bài hát ca ngợi, cũ và mới, đã trỗi lên từ tấm lòng và môi miệng tập thể của hội thánh trên khắp thế giới. Sự phát minh ra Mạng toàn cầu  vào thập niên 1990 đã giúp cho các tín hữu Cơ Đốc có thể xem và nghe âm thanh của sự ca ngợi và thờ phượng vang lên xuyên qua Mỹ Quốc, Canada, Nam Mỹ, Châu Âu, Châu Á, Châu Phi và Đất Thánh, và nhận thấy rằng âm thanh này là giống như nhau ở bất cứ nơi đâu con dân của Đức Chúa Trời cùng nhau nhóm họp. Đó là một âm thanh càng ngày càng trở nên giống như tiếng ngợi ca của Thiên Đàng hơn– một âm thanh mà không bao lâu nữa sẽ  đem vinh quang của Đức Chúa Trời đến phủ đầy cả tinh cầu (Ha. 2:14).

•Phụ chú:
1.Thánh ca Tin Lành (TC. TL), bài số 41 (ngt: A Mighty Fortress is Our God)
2.TC.TL, bài số 95 (ng.t: When I Survey the Wondrous Cross)
3.TC.TL, bài số 54 (ng.t: Joy to the World)
4.TC.TL, bài số 53 (ng.t: Hark the Harold Angels Sing)

5. TC.TL số 269
6. TC.TL số 390
•Link to original ”History of Hymns,”
Tác giả: Connie Ruth Christiansen
Shalom Do lược dịch

Mời ACE/các bạn nghe bài thánh ca "Chim sẻ mắt Chúa vẫn chú vào" 
(chia sẻ từ "Nhạc ThánhTin Lành/YouTube)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét